Lưu trữ

Archive for the ‘Chiến dịch Hồ Chí Minh’ Category

Sự kiện 30 tháng 4 lịch sử

Tháng Tư 16, 2011 Phản hồi đã bị khóa


Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Từ 26 đến 30-4-1975: Chiến dịch Tổng công kích giải phóng Sài Gòn-Gia Định – Chiến dịch Hồ Chí Minh

Ta bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

Những ngày đầu chiến dịch

Thời cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ chính trị ngày 31/3/1975 xác định “Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”. Các nghị sĩ Mỹ theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam.

Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy chiến dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.

Như một bức tranh hoành tráng, xe pháo và tàu thuyền đủ loại, bộ đội và dân nhân du kích, dân công và Thanh niên xung phong, những ngả đường tấp nập…, cả dân tộc từ Bắc chí Nam đang hành quân, hậu phương đang dốc toàn lực ra tiền tuyến, nửa miền Nam vừa được giải phóng cũng góp sức vào chuẩn bị giải phóng nửa còn lại.

Đầu tháng 4/1975 Trung ương cục miền Nam ra chỉ thị cho quân dân Nam bộ và Nam Trung bộ (B2) hãy “táo bạo đánh các điểm theo chốt… khi có thời cơ”. Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn quyết định mở chiến dịch chia cắt địch trong toàn B2 để bao vây cô lập dịch ở Sài Gòn. Điện của Bộ chính trị và Quân ủy trung ương nhắc nhở cần chuẩn bị thêm trước khi làm ăn lớn. Chỉ thị của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn căn dặn phải biết tập trung lực lượng đầy đủ vào các trận then chốt.

Ngày 8/4/1975, ta cho ném bom Dinh Độc Lập¹. Ngày 9/4/1975 ta tiến đánh địch ở Xuân Lộc. Ngày 16/4/1975 ta đập tan phòng tuyến phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang. Ngày 17/4/1975 Phnôm-pênh giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia đã kết thúc thắng lợi. Trong khi đó ở Lào chính phủ liên hiệp đóng cửa sứ quán ngụy Sài Gòn và ngụy Phnôm-pênh, sau đó vua Lào ra lệnh giải tán quốc hội, cuộc đấu tranh của quân và dân Lào bước hẳn sang thời kỳ chính trị hiệp thương để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 18/4/1975 tổng thống Mỹ. G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ² khỏi Việt Nam. Ngày 20/4/1975 Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 23/4/1975 Mỹ tuyên bố chiến tranh kết thúc, không thể giúp chính phủ Nam Việt Nam. Ngày 24/4/1975 Mỹ – Hương đề nghị xin ngưng bắn… Diễn biến dồn dập ấy diễn ra cùng lúc với 5 cách quân gồm 270.000 bộ đội chủ lực và 180.000 người khác phục vụ chiến dịch đang từng bước chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công vào Sài Gòn.

Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn

Tại Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và Nguyễn Hữu Có, lên gặp Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự, đã thúc đẩy Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (thủ tướng) đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, chờ “bàn giao trong vòng trật tự”. Dương Văn Minh họp bộ hạ và đưa ra ý kiến “tuyên bố thành phố bỏ ngỏ”. Sau khi bàn luận, Vũ Văn Mẫu viết bản tuyên bố kêu gọi đơn phương ngưng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lú 9 giờ 30 phút.

Trên tất cả các hướng vào Sài Gòn, quân ta tiếp tục tiến công theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị “tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống đối của chúng”.

Địch dùng pháo từ phía Đông xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa bắn ra cắt đội hình lữ đoàn xe tăng 20. Một phân đội của lữ đoàn rẽ vào đánh diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây chiếc xe 707 đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng. 9 giờ 30 phút đoàn xe tăng tiến thuận lợi qua cầu Rạch Chiếc do Z23, lữ đoàn 316 đặc công biệt động đang chiến giữ. Phía trước là cầu Sài Gòn, ở đây tiểu đoàn 4 Thủ Đức đã chiến đấu quyết liệt, giằng co với địch từ đêm 29 rạng 30 tháng 4, đến 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4 mới chiếm lại được đầu cầu phía Đông. Đoàn xe tăng lữ đoàm 203 đến đầu cầu Sài Gòn, 2 xe dẫn đầu đội hình tăng tốc vượt qua được nửa cầu thì bị xe tăng địch ở phía Tây vòm cầu bắn cháy. Đội hình xe tăng ta phải dừng lại ở đầu cầu phía Tây. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng Ngô Văn Nhỡ cầm cờ hiệu và điện đài chỉ huy tốp xe dẫn đầu vượt cầu lại bị trúng đạn địch và hy sinh trên tháp pháo. Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên chỉ huy vượt cầu. Địch tiếp tục bắn hỏng thêm 2 xe tăng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị viên Vũ Đặng Toàn chỉ huy đại đội 4 vượt qua cầu. Địch lui về ngã tư Hàng xanh, ta bám sát và bắn cháy một xe tăng của chúng tại đây. Các lực lượng tại chỗ bao vây, vận động vô hiệu hóa một số xe khác. Địch ở cầu Thị Nghè ngoan cố chống cự, ta bắn cháy thêm 1 xe tăng, 1 xe thiết giáp.

Qua cầu Thị Nghè, nữ chiến sĩ liệt động Nga (lữ đoàn 16) lên xe tăng cùng Phạm Duy Đô làm nhiệm vụ dẫn đường. Lữ đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bùi Quang Thận dẫn đầu. Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước dinh Độc Lập. Trong Dinh cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn Cang, Vũ Ngọc Nhạm một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến thẳng vào cửa Dinh. Ngay tức khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vu

i ở cổng Dinh Độc lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe, cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượng của tòa nhà, giật bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo ngay với trung tá chính ủy lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh điều chỉnh đội hình xe tăng bao vây Dinh đề phòng địch phản kích, đồng thời phái một bộ phận ra đánh chiếm cảng Sài Gòn.

Đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng một số cán bộ, chiến sĩ ta được Nguyễn Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu. Tiếp đó, các đồng chí Bùi Văn Tùng và Nguyễn Tấn Tài vào phòng khánh tiết. Hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng: Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can. Dương Văn Minh đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao”. Ta tuyên bố: “Các ông đã bị bắt làm tù bình, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao”.

Dương Văn Minh chấp nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến đài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh.

Từ sáng ngày 30 tháng 4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm nổi dậy của quần chúng và lực lượng tại chỗ.

Sau 11 giờ 30 phút ở 41 điểm chủ lực ta chưa tới, quân chúng và lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi dậy.

Ở quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30 tháng 4 khi lực lượng võ trang ta tiến công quận 3, anh Tư và anh Công, người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316) dùng

loa hô hào nhân dân nổi dậy giành chính quyền, kêu gọi sĩ quan và binh lính địch nộp vũ khí đầu hành. Ngay chiều 30 tháng 4 hàng trăm đồng bào xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng trăm người khác tự động ra đường thu gom vũ khí, quân trang, quân dụng của địch. Đồng bào treo đầy cờ giải phóng trước nhà riêng, công sở và tự nguyện góp cấp thời lương thực thực phẩm cho bộ đội.

Tại phường Bàn cờ quận 3, các đông chí cơ sở mật của ta: Chị Bảy, anh Châu, anh Ba Đông, phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, chiếm giữ các kho tàng của địch, giữ gìn trật tự, an ninh, làm vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được 3.000 súng các loại đem nộp cho cách mạng. 16 giờ ngày 30 tháng 4, phường Bàn Cờ tổ chức mít tinh, có 13.000 người dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các bạn phụ trách phường, khóm và tổ chức chuyên việc đăng ký ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện.

Ở hướng xa lộ Biên Hòa, Z27 sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc cho lữ đoàn 203 đi qua, theo lệnh trên, tiến chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy Zetcô (nay là liên hợp công trình 4) và giữ nhà máy điện Thủ Đức. Nhờ đó, điện ở thành phố chỉ gián đoạn có vài giờ trong ngày 30 tháng 4.

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, sau khi lữ đoàn 203 xe tăng qua cầu Sài Gòn tiếp tục tổ chức đánh chiếm các đồn bót địch trên trục lộ 33 đoạn từ ngã ba Bình Trưng đến ngã ba Phú Hữu, cùng cán bộ địa phương phát động quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn, giải phóng hai xã Bình Trưng và Phú Hữu.

Tại nhà máy nước Thủ Đức, từ những ngày 27 và 28 tháng 4, nòng cốt công nhân đã lập đội bảo vệ nhà máy. Hàng trăm công nhân và kỹ sư liên tục bám giữ máy, không cho địch phá, bảo đảm cung cấp đầy đủ nước cho thành phố cả nước và sau khi giải phóng. Ngày 30 tháng 4, khi xe tăng ta tiến gần đến, đồng chí Muống, đứng đầu ủy ban khởi nghĩa nhà máy, lãnh đạo công nhân tung tin hù dọa địch và tự mình leo lên nóc nhà máy treo một lá cờ lớn. Địch ở đây rất đông: thường xuyên có một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an và ngày 30 tháng 4, còn kéo về đây thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp… nhưng trước thế tiến như vũ bão của ta và khí thế công nhân tại chỗ, tất cả địch ở đây đã phải bỏ chạy.

Toàn bộ lực lượng địch ở Thủ Đức tan rã. Quần chúng xông vào chiếm giữ các căn cứ quân sự của địch, tiến chiếm trụ sở quận. Toàn bộ ngụy quyền quận bỏ chạy.

Với mọi chuẩn bị từ trước, khi đại quân ta tiến vào Sài Gòn, cơ sở cách mạng và quần chúng lao động nội thành kịp thời nổi dậy chiếm lĩnh, làm chủ và bảo vệ các cơ sở kinh tế, chính trị văn hóa quan trong, bảo đảm mọi sinh hoạt bình thường của một thành phố mới giải phóng.

Ở nhà máy điện Chợ Quán, ngay lúc địch đang tồn tại và thiết quân luật, công nhân đã thay phiên nhau đi sửa chữa đường dây, ổn định dòng điện. Anh em kêu gọi binh lính ngụy quay về với chính nghĩa, ủng hộ hành động nổi dậy của công nhân.

Tại xưởng Ba Son, công nhân tháo gỡ hết chất nổ địch gài, bảo vệ nguyên vẹn nhà máy.

Ở các hãng Esso, Shell, công nhân thành lập các ủy ban công nhân võ trang bảo vệ kho xăng Nhà Bè.

Công nhân các xí nghiệp Vimytes, Sicovina, Vinatexco, Biopharma và hàng loạt hãng, xưởng khác bất chấp công an, mật vụ, đã nổi dậy chiếm xưởng bảo vệ máy móc.

Các cơ sở cách mạng và quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh, cắm cờ trụ sở khóm hai phường Huyện Sĩ, ngã ba Thủ Khoa Huân, đường Lê Thánh Tôn, chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, ty cảnh sát quận 3, sở văn hóa… Một trí thức, cơ sở của ta, đã giữ gìn và trao lại nguyên vẹn cho cách mạng toàn bộ phòng báo chí Phủ tổng thống ngụy của Hoàng Đức Nhã (đặt tại số 116 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).

15 giờ ngày 30 tháng 4 tất cả cán bộ Thành ủy cánh A (luồn vào từ đêm 29 tháng 4) đã có mặt trong thành phố, tập kết nhận nhiệm vụ kế tiếp tại khu trường Pétrus Ký.

Cán bộ, chiến sĩ cánh B của Thành ủy có mặt cùng nhân dân thực hiện nổi dậy giành chính quyền, giành quyền làm chủ từ ấp, xã đến thị trấn ngoại thành, cũng đã hội tụ về nhận nhiệm vụ tại dinh tỉnh trưởng Gia Định.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn – Gia Định đã diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề… thu 12.275 súng và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạn và số công an cảnh sát là 10 vạn.

17 giờ ngày 30 tháng 4, tiếng súng đã thực sự chấm dứt ở “thủ đô” ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3 triệu dân vừa qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường ống; dòng điện chỉ tạm ngừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ… Người dân Sài Gòn – Gia Định náo nức cắt dàn cờ hoa để xuống đường ngày 1-5 mừng cuộc toàn thắng và chờ đêm hội pháo hoa.

Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Sài Gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam, nằm giữa miền Trung và miền Đông Nam Bộ, là trung tâm các đầu mối giao thông chiến lược cả về đường bộ, đường thủy và đường không. Các vùng nông thôn rừng núi, trung du đồng bằng và ven biển bao xung quanh thành phố có mối quan hệ mật thiết về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Trong thành phố, nhà cửa san sát với những cao ốc nhiều tầng, dân cư đông và tập trung ở mật độ cao. Những đặc điểm nêu trên làm cho Sài Gòn giữ một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng.

Đối với địch, nhất là trong chiến tranh xâm lược của Mỹ, Sài Gòn là thủ đô, trung tâm, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả miền Nam. Nơi đây là sào huyệt của tổ chức chính quyền trung ương ngụy và các đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hóa, nơi tập trung cơ cấu chỉ đạo, chỉ huy quân sự của toàn bộ cuộc chiến tranh với từng vùng chiến trường, nơi phát ra và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chiến lược, các kế hoạch, biện pháp và thủ đoạn chiến lược, chiến thuật trên toàn chiến trường miền Nam và Campuchia. Chúng tập trung ở Sài Gòn và vùng phụ cận một bộ phận quan trọng lực lượng, sinh lực và phương tiện chiến tranh lớn cùng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ xa, tập trung các cơ sở kinh tế công nghiệp, thương mại, đáp ứng phần lớn âm mưu cướp vét sức người sức của “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; đồng thời xây dựng, bố trí các cơ sở dự trữ vật chất, phương tiện chiến tranh lớn nhất ở Đông Dương. Đối phó với phong trào cách mạng quần chúng, ngoài mạng lưới kềm kẹp đồ sộ và nghiêm ngặt, địch tiến hành đánh phá thường xuyên và ác liệt, tinh vi trên mọi phương tiệnc hính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế, nơi chúng thực hiện một cách tập trung, đầy đủ nhất chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (từ năm 1945 đến năm 1954) và kiểu mới (từ năm 1945 đến năm 1975). Thành phố Sài là nơi thực dân Pháp nổ súng tiến công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược và là nơi đế quốc Mỹ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, là điểm mở đầu và kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc Pháp và Mỹ trong 30 năm qua.

Đối với ta, thành phố Sài Gòn là nơi tập trung số lượng dân cư đông đảo nhất ở miền Nam, nơi có lực lượng học sinh sinh viên, nhân sĩ trí thức, tư sản dân tộc và đặc biệt là lực lượng công nhân công nghiệp (vốn có quan hệ huyết thống gần gũi với nông dân vùng nông thôn Nam Bộ và với công nhân các đồn điền cao su). Nhân dân Sài Gòn có truyền thống yêu tự do, bất khuất chống ngoại xâm rất sâu sắc và liên tục trong suốt lịch sử 300 năm của thành phố. Mọi biến động ở thành phố Sài Gòn, do vị trí trung tâm của nó, đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, cả nước và trên thế giới. Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị của cả miền Nam trong cả hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh cách mạng xét về mặt mục tiêu cơ bản của công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước của dân tộc ta.

Những đặc điểm nêu trên tác động sâu sắc đến toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến diễn ra trên địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.

Tiếng súng gây hấn ngày 23 tháng 9 năm 1945 là hành động kết thúc quá trình chuẩn bị trở lại xâm lược Đông Dương của giới tư bản quân phiệt Pháp từ khi nước Pháp còn bị phát xít Đức chiếm đóng. Chuẩn bị và xác định ngay từ đầu quyết tâm kháng chiến, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã đứng dậy tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời nỗ lực đặt nền móng và phát triển mọi nhân tố của một Nhà nước Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập. 15 tháng đầu kháng chiến của quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã giáng một đoàn phủ đầu vào dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, làm xáo trộn kế hoạch chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng, tạo ra khoảng thời gian quý báu để nhân dân cả nước có điều kiện xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài diễn ra trên phạm vi toàn quốc.

Từ đầu năm 1947, trong điều kiện Sài Gòn bị chiếm đóng hoàn toàn, “được bình định, ổn định” và ngày càng trở thành trung tâm chiến lược xây dựng Nam Bộ thành hậu phương dự trữ của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã từng tiếp tục xây dựng lực lượng mọi mặt, xây dựng các loại lực lượng vũ trang thích hợp, mở rộng phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, đưa cuộc kháng chiến phát triển thành cao trào vào năm 1950.

Sau năm 1950, được sự chi viện của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp ra sức bình định Nam Bộ, trọng tâm là Sài Gòn, Chợ Lớn – Gia Định, đẩy phong trào cách mạng vào thời kỳ khó khăn kéo dài. Quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định năng động tổ chức lại chiến trường, bố trí lực lượng, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, vượt qua nhiều khó khăn nhằm khôi phục, giữ vững và phát triển phong trào trong điều kiện bị địch bao vây và đánh phá ác liệt. Hoạt động kháng chiến ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã làm suy yếu địch từ trong hậu phương của chúng, cầm chân địch tại chỗ, tạo điều kiện cho quân và dân toàn miền đẩy mạnh đợt hoạt động hưởng ứng chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Từ sau Hiệp định Genève 1954, đế quốc Mỹ gạt Pháp và các thế lực thân Pháp, từng bước nắm quyền thống trị miền Nam Việt Nam, xây dựng ngụy quân quyền, thi hành chính sách thực dân mới. Sài Gòn trở thành thủ đô của ngụy quyền miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Sài Gòn – Gia Định đã phát động phong trào đấu tranh chính trị tiến công địch ngay từ đầu, phát triển phong trào bảo vệ hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Genève, đưa Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị của toàn miền Nam. Vượt qua khó khăn thử thách trong những năm tiếp sau, đặc biệt trong các năm 1957 – 1958 – 1959, nhân dân Sài Gòn – Gia Định vẫn bền bỉ bảo tồn, gầy dựng và duy trì phong trào đấu tranh chính trị liên tục, nhằm bảo vệ quyền dân sinh, dân chủ, chống chính sách tố cộng diệt cộng, từng bước xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang ở vùng nông thôn Gia Định, phối hợp đấu tranh liên kết giữa đô thị và nông thôn nội ngoại thành, đưa dần đấu tranh chính trị phát triển lên đấu tranh chính trị có tự vệ vũ trang hỗ trợ, tiến đến thực hiện nổi dậy từng phần, giành quyền làm chủ ở một số vùng nông thôn ven sát sào huyệt địch (1960 – 1961).

Chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng, chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ngụy, quân và dân Sài Gòn – Gia Định bám sát đường lối chủ trương và phương châm chiến lược đấu tranh cách mạng của trên, phát huy tính năng động cách mạng, đề ra phương thức tổ chức và hình thức đấu tranh cụ thể cho các vùng hoạt động (nội đô, ven đô, nông thôn, ngoại thành), trong xây dựng các loại lực lượng và kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh thích hợp ở từng vùng trong thừng thời kỳ lịch sử nhất định. Các tầng lớp quần chúng nhân dân ở nội ngoại ô thành phố đều được huy động vào mặt trận đấu tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai (đặc biệt lực lượng học sinh sinh viên và quần chúng lao động, phật tử) đưa phong trào cách mạng phát triển lên thế chủ động tấn công địch, góp phần làm khủng hoảng sâu sắc chế độ chính trị ngụy quyền và cùng với lực lượng nhân dân ở vùng nông thôn làm phá sản quốc sách ấp chiến lược của chúng, Giữa năm, 1965, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh, ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam, tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ. Quân và dân Sài Gòn – Gia Định xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành mặt trận chống Mỹ cứu nước ngày càng rộng lớn ngay tại Sài Gòn – Gia Định. Cao trào đấu tranh chính trị chống Mỹ cùng với những trận tập kích quân sự vang dội trong nội đô và sự phát triển tiến công của Quân giải phóng ở các hướng xung quanh thành phố đã góp phần làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 – 1967 của Mỹ ngụy. Bước sang năm 1968, ngay tại sào huyệt địch, các lực lượng cách mạng Sài Gòn – Gia Định đã tích cực chuẩn bị táo bạo cùng lực lượng toàn miền thực hành tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, đánh vào nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng bậc nhất của Mỹ ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, góp phần cùng cả nước làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Paris.

Sau đợt 2 Tết Mậu Thân 1968, dù trong điều kiện bị địch phản kích đánh phá khốc liệt, lực lượng bị tiêu hao giảm sút, cơ sở bị bể vỡ nhiều, nhưng quân và dân Sài Gòn – Gia Định vẫn vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, kiên trì bám trụ địa bàn, chịu đựng gian khổ hy sinh, khéo léo chuyển hướng và phương pháp đấu tranh, quay về khôi phục xây dựng cơ sở, thực lực, giữ vững và tiến tới đẩy mạnh cao trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức ở nội đô, kiên cường đánh địch càn quét, liên tục chống phá chương trình bình định nông thôn của địch, giành lại và mở nhiều lõm làm chủ, giải phóng, phát triển hệ thống thông tin giao thông liên lạc ở vùng ven, tạo lại thế tiến công mới cho đến Hiệp định Paris.

Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh, quân và dân Sài Gòn – Gia Định kịp thời đề phòng và uốn nắn những biểu hiện hòa bình chủ nghĩa sau ngày ký Hiệp định Paris, tranh thủ thời cơ, tiếp tục phát triển thực lực cách mạng, tạo thế tạo lực mới. Từ cuối năm 1974, khi thời cơ cách mạng chúng bắt đầu xuất hiện, đã tích cực xây dựng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, phát huy hiệu lực ở cả ba mũi chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh tiến công địch trên khắp nội ngoại ô thành phố, góp phần thúc đẩy tính thế cách mạng nhanh chính chín muồi. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Sài Gòn – Gia Định kịp thời đón nhận thời cơ, tham gia tổng tiến quân và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến vào thành phố, đập tan bộ máy ngụy quân ngụy quyền từ cơ sở tới trung ương, làm chủ mọi sinh hoạt của thành phố ngay từ giờ phút đầu giải phóng.

Ba mươi năm chiến tranh ròng rã, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã hoàn thành vẻ vang sứ mạng mà lịch sử giao phó “đi trước về sau”, cùng quân và dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trải suốt những năm chiến tranh tàn khốc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định một lòng son sắt với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, kiên cường chịu đựng và vượt qua mọi gian lao thử thách, kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng quê hương, giải phóng đất nước. Cả trong những ngày cam go nhất của buổi đầu kháng chiến, giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1953, giai đoạn năm 1957 – 1958 – 1959, những ngày địch khủng bố ác liệt sau Tết Mậu Thân, dân và quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định vẫn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, lần hồi gầy dựng cơ sở (có khi đi trở lại từ con số không), sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì sự nghiệp chung, lòng không hề vướng bọn mảy may lợi ích riêng tư của bản thân mình. Trên mảnh đất Củ Chi, có những căn nhà được dựng đi dựng lại không dưới mươi lần trên nền đất cũ, có những người mẹ chít ngang đầu 8 vành tang trắng. Hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ trải hết các nhà tù, nếm đủ các đoàn tra tấn dã man và thâm hiểm nhất mà kẻ thù có thể nghĩ ra vẫn một lòng trung trinh với sự nghiệp cách mạng. Không thể nào ghi lại được đầy đủ chiến công và sự hy sinh của toàn thể dân, quân, cán bộ, đảng viên Sài Gòn – Gia Định những chiến sĩ anh hùng cách mạng. Máu của họ thấm đẫm trên mọi góc phố, cửa ô, mọi nẻo đường, làng xóm, vườn tược. Khôn thể nào nhắc lại được đầy đủ lịch sử các địa danh Vườn Thơm, Láng Le, Bàn Cờ, Bình Mỹ, Khu 5 Hóc Môn, Rừng Sác, Bưng Sáu Xã, Tám Giác Sắt, Củ Chi… những mảnh đất mà tên gọi và sự tích chắc chắn sẽ lưu lại mãi mãi trong lịch sử cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta.

Thắng lợi của quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua, một cuộc chiến tranh “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ hai mươi, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời sự sâu sắc” (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần IV)

Ba mươi năm, xương máu, mồ hôi của hàng vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ thành phố đổ xuống đã vun tưới thêm truyền thống chống ngoại xâm vốn được tinh cất trong suốt chiều dài lịch sử ba trăm năm của cư dân vùng đất Bến Nghé này. Đó là tình yêu quê hương đất nước, yêu độc lập tự do, là lòng trung thành vô hạn và ý nguyện dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là ý chí bất khuyất và năng động trước mọi ngăn trở của hoàn cảnh, tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường và trí tuệ mưu lược thấm đẫm tinh thần thượng võ, nghĩa hiệp, là phẩm chất cần cù lao động sáng tạo xây dựng cuộc sống mới. Đó chính là tinh thần đoàn kết gắn bó, là tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, là lối ứng xử bặt thiệp, hào hiệp, nhân nghĩa, có thủy có chung.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định được vinh dự mang tên Bác Hồ – Thành phố Hồ Chí Minh. Quân và dân thành phố lại tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới: khắc phục hậu quả chiến tranh, sửa đổi lệch lạc trong bước đi, đổi mới sự lãnh đạo, khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất mới, từng bước đưa thành phố tiến lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh, đấu tranh giữ vững thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tăng cường và củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hàng ngàn người con của thành phố đã lên đường chiến đấu anh dũng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Campuchia.

Lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ đang lùi xa vào quá khứ. Nhưng những giá trị quyền thống và bài học lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ cư dân chủ nhân của thành phố Hồ Chí Minh – thành phố anh hùng.

(¹) Người ném bom Dinh Độc Lập là Nguyễn Thành Trung, người cán bộ nội tuyến binh vận của ta được cài vào trong lực lượng không quân quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 8.4.1975, anh đã lái máy bay F.5 xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay vào ném bom trúng dinh Độc Lập và sau đó hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này góp phần gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ ngụy quyền Sài Gòn.

Ngày 28.4.1975, không đầy 10 phút sau khi tướng Dương Văn Minh thay Thiệu nhậm chức Tổng thống, Nguyễn Thành Trung đã dẫn đường cho 4 chiếc A.37 do Mỹ chế tạo từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), lượn vòng trên bầu trời Sài Gòn. Lúc 17 giờ 40 phút phi đội của Nguyễn Thành Trung đã ném bom và bắn đạn DK.28 vào sân bay Tân Sơn Nhất khiến 3 máy bay AC.119 và nhiều chiếc C.47 bị phá hủy. Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát. Máy bay phản kích của địch bay mò vì trạm hướng dẫn đã bị hỏng. Cuộc oanh tạc táo bạo, bất ngờ làm tiêu tan hy vọng “thương lượng” của “tân tổng thống” lẫn Hoa Kỳ, làm tăng thêm sự hoang mang và hỗn loạn của địch.

(²) Trong “cơn lốc kinh hoàng” của cuộc tháo chạy mệnh danh “người liều mạng” rồi “móng quặp chặt”, hàng ngàn người tranh nhau bám càng trực thăng trong cơn hoảng loạn, mặc dù từ ngày 10 tháng 4 năm 1975 Bộ chỉ huy quân Giải phóng đã tuyên bố: “Quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho cố vấn Hoa Kỳ rút về nước bình an vô sự”.

Ngày 3 tháng 4, sau những cơn giận dữ của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Schlesiger và cố vấn Kissinger ở Washington vì sự nấn ná quá đáng của Đại sứ Martin ở Sài gòn để cố tạo ra vẻ “người Mỹ đàng hoàng ra đi”, Tổng thống Ford ra lệnh dứt khoát: “Chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 30 phút, giờ địa phương, sáng 30 tháng 4″. Tuy nhiên, lệnh không thi hành được.

4 giờ 20 phút, tiếp tục cuộc tháo chạy, một máy bay CH-53 đổ xuống lầu thượng tòa Đại sứ, Martin lại nhận được điện của Nhà Trắng: “Tổng thống ra lệnh đại sứ phải đi chuyến này”. Martin vẫn chậm chạp. Một nhân viên cấp dưới tỏ vẻ bực tức: “Lệnh là lệnh, đại sứ phải lên. mà lên ngay, vì quân đội Bắc Việt Nam đã ở dưới đường. Họ sẽ nổi giận và bắn chúng ta nếu họ thấy chiếc máy bay để ở đây lâu quá”.

Nhà Trắng lại có lệnh rõ ràng: “Cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin đã đi”.

Nhưng chiếc CH-53 chở Martin đã rời sân thượng, tòa Đại sứ Mỹ vẫn còn 5 nhân viên, 4 lính thủy đánh bộ người Mỹ và ngót 420 người Việt Nam phần đông là nhân vật cao cấp của Thiệu, nhân viên Sứ quán Nam Triều Tiên, đứng đầu là 1 thiếu tướng… Tất cả những người này chấp nhận bỏ hành lý để thoát cho được.

Moorefield, người được Martin chọn “giúp cai trị” ở toà Đại sứ là người Mỹ cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút ngày 30 tháng 4. Ông ta kể lại cảnh tượng Sài Gòn lúc đó, nhìn từ bầu trời xuống: “Bình yên, phẳng lặng. Trừ một vài đám cháy ở đàng xa…”

Tom Polgar, nhân viên cao cấp ở tòa Đại sứ “Người nguy hiểm nhất đối với Martin” vì những nhận định, báo cáo lên Nhà Trắng cứ trái ngược, nhưng rất “hợp Martin” ở chỗ “chống cộng kịch liệt và ham thích nghiên cứu”, cùng ngồi với Martin trên chiếc CH-53 trong cuộc tháo chạy tán loạn, đã ghi lại nhận xét của mình ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng… Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử”.

(Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến 1945-1975. NXB TP.HCM)

Lịch sử Việt Nam

Phối hợp với chiến trường

Tháng Tư 14, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Chiến dịch Hồ Chí Minh” giữa lòng Paris (kỳ 1)

TT – Nếu từ 1968 đến đầu 1973 đồng bào và chiến sĩ ta đã “sống theo giờ Paris” bám sát các hoạt động của mặt trận ngoại giao, thì từ 1973-1975 Paris lại sống theo giờ VN vì những con người VN trên đất Pháp và Tây Âu tuy địa bàn và tính chất hoạt động khác nhau, cũng sống, làm việc và đấu tranh theo nhịp điệu và tình cảm của đồng bào trong nước.

Đoàn đại biểu VN dân chủ cộng hòa tại lễ ký kết Hiệp định Paris (ngồi hàng đầu, từ trái sang): Nguyễn Minh Vỹ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Sung – Ảnh tư liệu của tác giả

Xuân 1975 và những ngày Chiến dịch Hồ Chí Minh, người trong nước tâm trạng như thế nào thì người VN ở Paris, ở Pháp, ở Tây Âu cũng tâm trạng như vậy. Mỗi người tùy vị trí của mình đều cố gắng hết sức góp phần nhỏ bé vào đại thắng mùa xuân 1975, mùa xuân của “Bắc Nam sum họp”.

Nhiệm vụ của người ở Pháp

Cuộc đàm phán giữa hai bên miền Nam VN (tức chính quyền Sài Gòn và Chính phủ cách mạng lâm thời) phải đạt thỏa thuận trong vòng 90 ngày kể từ ngày ngừng bắn để ký kết Hiệp định giải quyết các vấn đề nội bộ của miền Nam VN (điều 9 Hiệp định Paris), nhưng hết hạn đó tức ngày 25-4-1973 hai bên miền Nam vẫn chưa đạt được thỏa thuận gì.

Theo yêu cầu của Mỹ đã tiến hành một đợt họp riêng giữa VN dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ tại Paris kéo dài từ 17-5 đến 13-6-1973. Qua cuộc gặp tháng 5 và 6-1973 ngày ta thấy được thái độ của Mỹ và Thiệu rất khó cho việc thi hành hiệp định.

Tháng 10-1973, Trung ương Đảng Lao động VN đã họp lần 21 xem xét tình hình và đề ra phương hướng là nếu Nguyễn Văn Thiệu không chịu thi hành Hiệp định Paris và tiếp tục chiến tranh thì ta không có cách nào khác, phải tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng miền Nam.

Sau nghị quyết Trung ương thứ 21, Quân ủy Trung ương đã nghiên cứu triển khai và có nghị quyết được Bộ Chính trị thông qua, trên cơ sở đó từ tháng 4-1974 quân ta đã có những trận phản công và tiến công lớn mà trận thử sức đầu tiên là trận Thượng Đức ở Tây nguyên.

Tác giả Võ Văn Sung:

Từ 1968 – 1970 là phó vụ trưởng Vụ Nghiên cứu đấu tranh ngoại giao với Mỹ.

1971-1973: tham gia đoàn đàm phán bí mật với Mỹ; tổng đại diện của Chính phủ VN dân chủ cộng hòa tại Pháp.

1973-1976: đại sứ VN dân chủ cộng hòa tại Pháp, 1976-1981: đại sứ CHXHCN VN tại Pháp (kiêm nhiệm đại sứ tại Bỉ, Hà Lan, Luxembourg từ 1974-1981).

Ngày 25-11-1974, anh Lê Đức Thọ sang Paris công tác và trước khi về Hà Nội đã triệu tập Ban cán sự Đảng tại Pháp cùng với mấy cán bộ chủ chốt của phong trào Việt kiều là bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà – bí thư nhóm Việt ngữ, Huỳnh Trung Đồng – phó bí thư và Lâm Bá Châu – ủy viên thường vụ, để phổ biến một số tình hình trong nước, đặc biệt là các hoạt động quân sự của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và việc đánh trả của ta; về nhiệm vụ ở Pháp anh căn dặn việc đẩy mạnh phong trào Việt kiều để kịp thời hiệp đồng với trong nước.
Sau cuộc họp này anh Lê Đức Thọ giữ tôi lại để phổ biến riêng về đánh giá của Hội nghị trung ương lần 21 và về việc Bộ Chính trị đang chuẩn bị một hội nghị nhằm khẳng định các khả năng và ra nghị quyết của Bộ Chính trị tranh thủ thời cơ giải phóng miền Nam trễ nhất là năm 1976.

Anh yêu cầu tôi chuẩn bị để kịp thời xử lý những hoạt động ở Pháp trong tình huống do sự khẩn trương của tình hình mà sự chỉ đạo cụ thể của trong nước sang Paris không thể kịp thời. Anh căn dặn tôi bàn bạc trong Ban cán sự từng bước tùy sự phát triển của tình hình và phải tuyệt đối giữ bí mật ý đồ của Bộ Chính trị, đồng thời phải huy động được mọi khả năng bám sát phản ứng của Mỹ để phối hợp với trong nước.

Anh cũng nhấn mạnh là với tư cách bí thư Ban cán sự, tôi phải quyết định và chịu trách nhiệm về công việc ở Paris nếu không thể xin được chỉ đạo của trong nước. Trước khi lên máy bay anh Lê Đức Thọ còn cho tôi biết sẽ có “đường dây” báo riêng cho tôi biết “thời điểm” để tôi hợp đồng tốt với ở “nhà”.

Sau khi anh Lê Đức Thọ về nước, tôi sắp xếp lại các điều được phổ biến và tự hiểu rằng nhiệm vụ của thời kỳ mới chủ yếu là dùng đấu tranh quân sự để giải phóng miền Nam, do đó nhiệm vụ của ngoại giao nói chung và trên địa bàn Paris nói riêng là phải phục vụ chặt chẽ cho chiến trường.

Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!

Ngày 13-4-1975, tôi được triệu tập sang Matxcơva gấp và ngày 14-4-1975 tôi được nối “đường dây” mà anh Lê Đức Thọ nói khi lên máy bay rời Paris ngày 5-12-1974. Tôi không ngờ “đường dây” này lại là anh Lê Thanh Nghị, ủy viên Bộ Chính trị đi công tác ở Liên Xô mấy hôm.

Anh Lê Thanh Nghị đã giao cho tôi một số việc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, sau đó nói với tôi về tình hình trong nước và báo riêng “anh Sáu Thọ nhắn anh là các việc cứ xúc tiến như đã bàn; có nhiều khả năng xong trước mùa mưa này”.

Những ai từng sống và làm việc tại Paris thời ấy đều nhận thấy Paris là địa điểm đàm phán thuận lợi cho cả hai bên VN và Hoa Kỳ.

Nơi đây đã trở thành môi trường tranh thủ dư luận lý tưởng cho ta không chỉ trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris về VN mà còn nhiều năm sau đó, cho tới khi nước nhà thống nhất.

Ở đó, ta có một binh chủng đặc biệt là cộng đồng người VN tại Pháp và các nước Tây Bắc Âu một lòng hướng về Tổ quốc, có một đồng minh thủy chung là phong trào nhân dân Pháp ủng hộ độc lập và đòi hòa bình cho VN, và có một nhân tố quan trọng nữa là vai trò tích cực của nước chủ nhà.

Ba yếu tố thuận lợi đó chính là lực cộng hưởng hỗ trợ mạnh mẽ cho mặt trận ngoại giao của ta.

Là người tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh ngoại giao của ta tại Hội nghị Paris, rồi giai đoạn đấu tranh thi hành hiệp định, có thể nói nhà ngoại giao Võ Văn Sung là một trong số ít những người có may mắn được đi suốt cuộc đụng đầu lịch sử giữa nền ngoại giao VN non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của Hoa Kỳ ngay trên đất Paris – một trong những trung tâm văn minh lớn của phương Tây.

NGUYỄN DY NIÊN
(Bộ trưởng Bộ Ngoại giao)

Trước khi chia tay anh Nghị nói với tôi một câu nay tôi như còn nghe được: “Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”. Cách nói khác với tác phong thường ngày của anh Nghị, bộc lộ tình cảm rất rõ. Sau khi được lời nhắn của anh Lê Đức Thọ và trước thái độ đầy xúc động của anh Lê Thanh Nghị, tôi thấy trong người như được thêm một sức mạnh mới…

Suy nghĩ về các việc trọng tâm, tôi cho rằng một vấn đề hàng đầu có ý nghĩa cốt lõi khi quyết định dùng quân sự “đánh cho ngụy nhào” là việc đánh giá đúng ý đồ và khả năng của Mỹ có đưa quân Mỹ trở lại miền Nam để cứu ngụy quyền Sài Gòn không.

Sau lần anh Lê Đức Thọ gặp ông Kissinger tháng 6-1973 ta cũng đã thấy được những hạn chế của Mỹ trong khả năng trở lại VN bằng quân sự. Do đó câu hỏi “Mỹ dám trở lại VN không?” là vấn đề ta phải giải đáp rõ ràng hơn. Từ đó tôi nghĩ rằng hoạt động của ta ở Paris trước tiên cũng phải nhằm góp phần giải đáp câu hỏi này.

Chúng tôi cũng nhận thức rằng cơ quan của ta ở Paris là một trong những đài quan sát quan trọng nhất của ta trên thế giới nên cần phải làm việc này khẩn trương và chính xác.

Chúng tôi đã huy động hầu hết lực lượng nghiên cứu, tiếp xúc của hai cơ quan VN dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN để tiến hành công việc này, trong đó có một số việc chỉ riêng ở vị trí của tôi mới làm được.

——————
(*) Sách sắp phát hành của NXB Quân Đội Nhân Dân. Báo Tuổi Trẻ trích đăng và tạm đặt một số tựa lớn, tựa nhỏ để bạn đọc tiện theo dõi.

Thăm dò những động thái trong hành động và ý đồ của Mỹ trước từng bước tiến công quân sự của ta ở miền Nam, đó là kế hoạch mà ông đại sứ đã tự đề ra trước diễn biến mới ở quê nhà. Câu hỏi từ Hà Nội về khả năng Mỹ đưa quân trở lại VN cũng được “người ở Paris” tìm cách trả lời.

Và ông đại sứ tìm đến hai nhân vật…

VÕ VĂN SUNG

Hai đại diện ngoại giao của chính quyền Sài Gòn

Tháng Tư 14, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Chiến dịch Hồ Chí Minh” giữa lòng Paris (kỳ 2)

Biểu tình ngày 1-5-1975 của các bạn Pháp mừng VN toàn thắng

TT – Ngày 3-1-1975, trong cuộc chiêu đãi nhân dịp năm mới của tổng thống Pháp mời ngoại giao đoàn, ông đã chủ động đến chào tôi và tự giới thiệu là “đại sứ VN Cộng hòa”.

Người quen cũ Nguyễn Duy Quang

Tôi trả lời: “Tôi không muốn nói chuyện với anh thân mật nếu anh tự giới thiệu như vậy, vì cả anh lẫn tôi, chúng ta đều là những người tham gia kháng chiến từ năm 1945, cho nên cả hai chúng ta đều là VN Dân chủ cộng hòa cả.

Tôi nhớ năm 1946 đã từng gặp anh tại Huế, ở cửa Thuận An, lúc đó anh đi cùng phu nhân cố vấn Vĩnh Thụy và cậu Bảo Long. Được biết năm 1946 anh đã từng tham gia công việc của nhóm ngoại giao do anh Nguyễn Duy Trinh phụ trách khi anh Trinh là phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung bộ tại Huế.

Tôi được anh Trinh cho biết là anh đã làm giám đốc Sở Tư pháp Liên khu 4 cho đến năm 1953 và vì hoàn cảnh riêng anh đã không thể tiếp tục. Tuy vậy đầu năm 1974 khi anh Trinh qua Pháp, tôi nói anh đang ở Paris, anh Trinh có dặn tôi chuyển lời anh ấy thăm anh. Tôi sẵn sàng nói chuyện trên tình anh em đã từng tham gia kháng chiến”.

Ông Nguyễn Duy Quang trả lời: “Nếu anh muốn vậy cũng được, tôi không xưng với anh là đại sứ VN Cộng hòa nữa. Nhờ anh chuyển lời của tôi kính thăm anh Trinh”.

Anh Trinh lúc đó là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao VN Dân chủ cộng hòa. Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1-1973 và Định ước quốc tế về VN tháng 2-1973, anh Trinh có dịp sang Paris đầu năm 1974 để dự lễ tang Tổng thống Pháp G. Pompidou.

Trong buổi lễ ở nhà thờ Notre Dame de Paris, tôi báo tin cho anh Trinh là “ông Nguyễn Duy Quang là đại sứ của Sài Gòn đang đứng không xa chúng ta bao nhiêu”; anh Trinh đã nhận ra và nói cho tôi thêm các thông tin về ông Quang mà tôi chưa biết.

Sau giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long mấy hôm, trong chiêu đãi quốc khánh của một sứ quán ở Paris, tôi đã hỏi ông Quang ý kiến về việc ta giải phóng Phước Long. Ông Quang tỏ thái độ khá lo lắng và nói đại ý không rõ tình hình rồi sẽ đi đến đâu.

Tôi nói: “Chỗ anh em với nhau tôi xin nói thẳng, năm 1953 anh đã không tiếp tục đi với kháng chiến thì bây giờ anh nên cân nhắc và tôi có thể đảm bảo với anh rằng nếu anh quay trở về, anh Trinh và anh em ta sẽ rất hoan nghênh anh”. Ông Quang trả lời tôi: “Xin anh cho tôi suy nghĩ thêm rồi sẽ trả lời anh sau”.

Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi lại chủ động gặp ông Nguyễn Duy Quang. Ông Quang cho tôi biết đại ý là không thấy Mỹ động tĩnh gì; tôi lại nhắc việc “gọi ông trở lại với kháng chiến”, ông vẫn trả lời “cho suy nghĩ thêm một thời gian nữa”. Tuy vậy qua thái độ của ông Quang, tôi có cảm giác ông ấy rất lo lắng như là tình hình quan hệ giữa ông với Nguyễn Văn Thiệu không tốt đẹp gì và ông cũng có phần hoang mang.

Thời gian tiếp theo từ cuối tháng hai đến đầu tháng tư, tôi đã giục ông mấy lần cần quyết định thái độ, ông đều lần lữa nói rằng xin cho “suy nghĩ thêm”. Chỉ có một lần tôi hỏi quan hệ giữa Mỹ và Thiệu như thế nào thì ông trả lời cho tôi hiểu rằng quan hệ đó không tốt.

Mục đích của tôi muốn kéo ông Quang trở lại với ta là nhằm giúp ta nắm thêm động thái và ý đồ của Mỹ, đồng thời là mở đường cho một người kháng chiến cũ trở lại với cách mạng. Nhưng ông Quang cứ lần lữa đến giữa tháng tư mới trả lời đại ý, nếu có việc gì thì giao cho ông làm và gợi ý là ông sẵn sàng cùng tôi và anh Phạm Văn Ba, đại diện của Chính phủ cách mạng lâm thời, ra tuyên bố chung kêu gọi kiều bào đoàn kết.

Vì lúc bấy giờ quân ta đã phá được “cánh cửa thép” Xuân Lộc và chiến dịch đánh vào Sài Gòn sắp bắt đầu nên tôi trả lời ông Quang là: “Anh trả lời quá chậm, lỡ mất cơ hội rồi”. 5g sáng giờ Paris ngày 30-4, khi được tin ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng tôi đã gọi điện thoại cho ông Quang và ông Quang có hỏi: “Anh có việc gì giao cho tôi không?”, tôi đã trả lời: “Anh cần làm cho cán bộ nhân viên sứ quán yên lòng và chuẩn bị bàn giao sứ quán cho anh Phạm Văn Ba cho tốt, rồi đây tôi sẽ gặp riêng anh sau”.

Cuộc trò chuyện với ông Phạm Đăng Lâm

Ông Lâm đã từng là trưởng đoàn đàm phán của Sài Gòn ở hội nghị bốn bên và sau Hiệp định Paris ông được cử làm đại sứ của Sài Gòn tại London. Vì có dịp tiếp xúc ở Paris từ trước, tôi đã quan sát ông Lâm và nhận thấy ông có thái độ từ tốn và có vẻ suy tư nhiều cho nên tôi chủ trương gián tiếp thăm dò động thái và ý đồ của Mỹ thông qua ông này.

Khi ông Phạm Đăng Lâm được cử làm đại sứ Sài Gòn tại London lại kiêm đại sứ Sài Gòn tại Amsterdam, nơi tôi cũng kiêm nhiệm đại sứ VN Dân chủ cộng hòa, nên tôi và ông Lâm có những dịp gặp nhau ở La Haye hoặc Amsterdam trong các hoạt động lễ tân của Chính phủ Hà Lan có mời ngoại giao đoàn.

Vì ông Lâm không có quá khứ gần gũi với ta trong kháng chiến chống Pháp như ông Quang nên tôi phải dùng phương pháp đường vòng để thăm dò; một là: “Ông Thiệu có còn chút ý muốn thi hành Hiệp định Paris không?”; hai là: “Mỹ vẫn viện trợ nhiều cho ông Thiệu?”. Cách trả lời của ông Lâm làm cho tôi hiểu rằng ông không ưa gì Thiệu, mặt khác Thiệu cũng gặp khó khăn trong quan hệ với Mỹ vì Mỹ không đáp ứng nhiều các yêu cầu của Thiệu.

Cũng 5g sáng giờ Paris ngày 30-4-1975, sau khi gọi điện thoại cho ông Nguyễn Duy Quang tôi cũng đã gọi điện thoại cho ông Phạm Đăng Lâm ở London. Khi chuông reo tôi nghe giọng phụ nữ trả lời bèn hỏi: “Có phải chị Lâm không? Tôi là Võ Văn Sung gọi từ Paris sang đây, chị cho tôi nói chuyện với anh”. Bà Lâm hồ hởi nói “anh giữ máy” và tôi nghe tiếng bà Lâm nói: “Anh Lâm ơi mau ra nói phôn với anh Sung từ bên Paris gọi sang”.

Tôi nói với ông Lâm giống như đã nói với ông Quang. Ông Lâm trả lời: “Tôi hứa sẽ thu xếp việc bàn giao sứ quán tốt đẹp” và tỏ ý rất thoải mái khi nói chuyện điện thoại với tôi. Ông cũng nói qua điện thoại với tôi rằng nếu Chính phủ ta giao việc gì ông cũng sẵn sàng.

“Đài quan sát” ở Paris

Sau khi ta giải phóng Phước Long ngày 6-1-1975, Lầu Năm Góc tung tin là Mỹ sẽ ném bom trở lại và sẽ đưa hạm đội Mỹ từ Philippines quay trở lại biển Đông, đồng thời chúng tôi cũng nhận được tin sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đóng tại Okinawa, Nhật Bản được lệnh báo động.

Cuối tháng 1-1975 sứ quán Paris nhận được điện của Hà Nội yêu cầu: cho biết Mỹ có khả năng đưa quân trở lại VN không! Chúng tôi đã phân công anh Lê Đình Nhân, bí thư thứ nhất và anh Hồ Nam, bí thư thứ hai, đi thu thập nhiều tin tức, thông qua nhiều mối quan hệ với bạn bè ở Tây Âu và Bắc Mỹ và có được mấy thông tin đáng kể: một là ngân sách Mỹ về quân sự cho năm 1975 về chi tiêu quân sự ở châu Á nói chung và chi viện cho chính quyền Sài Gòn nói riêng chẳng những không tăng mà còn giảm.

Thứ hai là qua những tin tức từ Lầu Năm Góc cho thấy từ sau khi Nixon mất chức tổng thống ngày 9-5-1974 do vụ Watergate thì quân Mỹ hầu như bất động, không có cuộc điều động quân đội nào lớn, kể cả các đơn vị đóng ở châu Á. Giữa tháng 2-1975, sứ quán đã báo cáo về nước các tin tức trên cùng với những nhận xét qua tiếp xúc với ông Quang và ông Lâm và đề xuất nhận định: không có khả năng Mỹ đưa quân trở lại VN!

Tiếp đó cũng vào giữa tháng 2-1975 Hà Nội lại hỏi: tàu sân bay Enterprise từ Philippines được điều động vào biển Đông có nhiệm vụ gì? Qua các nguồn tin của bạn bè thuộc ngành hàng hải và có những tin báo chí khác trùng hợp là tàu sân bay này không có nhiệm vụ chiến đấu, mà là nhằm mục đích đề phòng khi cần thiết thì “di tản” 954 người Mỹ đang còn ở Sài Gòn nếu không đưa đi được bằng đường không.

Chúng tôi đã trả lời Hà Nội rằng: Enterprise từ Philippines sang không có nhiệm vụ chiến đấu mà có nhiệm vụ “di tản” người Mỹ. Sau khi sứ quán báo cáo, Hà Nội đã cho biết tin tức của Paris cung cấp trùng hợp với tin tức của “nhà” có từ các nguồn khác, đặc biệt Hà Nội rất tâm đắc với chữ “di tản” sử dụng trong báo cáo của sứ quán do anh Hồ Nam đã có sáng kiến dịch chữ “évacuer” tiếng Pháp là “di tản”.

Nhìn chung chúng tôi đã nhận thức đúng rằng cơ quan ta ở Paris là một trong những đài quan sát quan trọng nhất ở nước ngoài và đã lấy việc thu thập tin tức, nghiên cứu các vấn đề phối hợp với chiến trường làm công tác trọng tâm trong thời kỳ này, và điều đáng mừng là những tin tức chúng tôi cung cấp được đã khớp với các nguồn tin khác của nhà.

“Mặt trận” đã mở đến Paris. Hoạt động ngoại giao lúc này còn là cuộc đấu tranh để mở rộng vị trí quốc tế của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN.

Trong cuộc vận động ấy, có một lần đại sứ VN đã bị đại sứ Hà Lan từ chối tiếp xúc…

VÕ VĂN SUNG

Sự cố ngoại giao và sự hiểu lầm của một ngoại trưởng

Tháng Tư 14, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Chiến dịch Hồ Chí Minh” giữa lòng Paris (kỳ 3)

TT – Một số hoạt động ngoại giao có hai tác dụng vừa phục vụ yêu cầu đấu tranh chính trị, vừa che giấu ý đồ quân sự của ta đã được tiến hành trong thời kỳ này, đó là các hoạt động nhằm mở rộng vị trí quốc tế của Chính phủ cách mạng lâm thời.

Ông bà đại sứ Võ Văn Sung tiếp cụ Trần Văn Hữu – cựu thủ tướng thời Bảo Đại, tại Đại sứ quán VN Dân chủ cộng hòa

Trong loại việc này có một hoạt động tương đối tập trung từ cuối tháng giêng đến giữa tháng 2-1975 là đấu tranh cho sự tham gia của Chính phủ cách mạng lâm thời ở hội nghị quốc tế về Luật nhân đạo tại Geneva. Cùng thời gian ta tiếp tục tiến hành vận động thêm một số nước công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời.

Tiến hành các hoạt động này, ta xuất phát từ tình hình trước mắt có hai khả năng: Một là, nếu ta giải phóng được miền Nam đầu năm 1975 thì việc này tự nó sẽ có tác dụng che giấu ý đồ quân sự thật sự của ta, đánh lạc hướng địch. Hai là, nếu cuộc chiến đấu phải kéo dài đến năm 1976 thì việc nâng cao vị trí quốc tế của Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ có ảnh hưởng tích cực đến phong trào đấu tranh chính trị của các đô thị ở miền Nam và góp phần thúc đẩy phong trào ủng hộ ta trên thế giới.

Hội nghị quốc tế về Luật nhân đạo

Năm 1974 sau Hiệp định Paris về VN, ở Liên Hiệp Quốc có một vấn đề đặt ra là trong những cuộc xung đột vũ trang thường dân, tù binh, tù chính trị đã có những biểu hiện không được đối xử nhân đạo và luật quốc tế về vấn đề này đang còn thiếu sót. Liên Hiệp Quốc đã chủ trương triệu tập một hội nghị quốc tế tại Geneva tháng 2-1975 để làm việc này.

Ta đánh giá khả năng Chính phủ cách mạng lâm thời được dự hội nghị này là 50: 50, vì tuy quan hệ ngoại giao của Chính phủ cách mạng lâm thời còn có hạn chế nhưng Chính phủ cách mạng lâm thời là một bên vừa mới ký kết Hiệp định Paris và Định ước quốc tế về VN nên ta cũng có khả năng vận động cho Chính phủ cách mạng lâm thời được dự hội nghị. Ta đã đưa một đoàn từ trong nước sang để dự hội nghị và tiến hành các hoạt động vận động cho việc này.

Hà Nội có triệu tập anh Hà Văn Lâu lúc đó là đại sứ ở Cuba và tôi là đại sứ ở Pháp sang Geneva tham gia công việc này. Anh Hà Văn Lâu được phân công phụ trách các nước thuộc phong trào không liên kết và tôi được phân công vận động 11 nước, chủ yếu là Tây Âu, bao gồm các nước tôi kiêm nhiệm đại sứ là Hà Lan, Bỉ và Luxembourg.

Cuộc vận động ở Geneva đưa đến kết quả là trước giờ biểu quyết ta dự kiến đạt được 32 phiếu ủng hộ, 31 phiếu chống và một số phiếu trắng; nhưng khi biểu quyết thì có một đại biểu châu Phi đã hứa ủng hộ ta vắng mặt, khi kết thúc biểu quyết mới xuất hiện.

Anh Hà Văn Lâu đã trực tiếp hỏi đại biểu này thì được biết lý do vắng mặt là vì đi vệ sinh, nhưng ông ấy có thái độ rất buồn rầu khi nghe công bố kết quả 31 ủng hộ, 31 chống, một số phiếu trắng và một vắng mặt. Về sau vị đại biểu châu Phi đó đã thú thật riêng với ta là nước ông phải chịu quá nhiều sức ép. Do kết quả như vậy Chính phủ cách mạng lâm thời không đủ đa số để tham dự hội nghị.

Cố nhiên đoàn ta đã có phát biểu bình luận việc này và lập luận của ta thấy rõ sự “thiết tha” của Chính phủ cách mạng lâm thời được cùng tham gia một luật quốc tế quan trọng như “Luật nhân đạo trong chiến tranh”, đồng thời tỏ rõ ta tích cực bảo vệ điều khoản của Hiệp định Paris là ở miền Nam VN có hai chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát.

Sự cố ngoại giao ở Geneva

Tôi có một số kỷ niệm đáng nhớ, nó giúp cho ta thấy được tình cảm của chính phủ các nước đối với Chính phủ cách mạng lâm thời, có nhiều khi không như biểu hiện về mặt ngoại giao chính thức.

Tôi xin kể một ví dụ: tôi xin gặp đại sứ trưởng phái đoàn của Hà Lan cạnh Liên Hiệp Quốc tại Geneva là ông Van Der Klaus (về sau ông này làm bộ trưởng ngoại giao Hà Lan) nhưng văn phòng của phái đoàn Hà Lan trả lời: “Đại sứ không tiếp” và giải thích lý do: “Hà Lan không thể ủng hộ lập trường của các ông được”.

Khi ta hỏi lại: “Các ông đã gặp chúng tôi lần nào đâu mà biết lập trường của chúng tôi?”, phía Hà Lan đã trả lời: “Chúng tôi đã gặp một người của các ông rồi, cách đây hai hôm”. Phía ta trả lời: “Chúng tôi chưa có ai gặp các ông cả. Ông Võ Văn Sung là đại sứ của Hà Nội tại Paris kiêm nhiệm đại sứ tại Hà Lan; đề nghị văn phòng báo cáo lại với đại sứ Van Der Klaus”.

Chưa đầy 15 phút sau, phái đoàn Hà Lan gọi lại cho biết đại sứ Hà Lan có thể tiếp tôi lúc nào tôi muốn. Tôi đã trả lời sẵn sàng đến và liền sau đó tôi đã gặp.

Khi tôi bước vào phòng khách, đại sứ Van Der Klaus đã vồn vã ra tận cửa đón tôi và nói: “Xin bạn đồng nghiệp miễn chấp vì tôi cứ tưởng người xin gặp tôi là đại sứ của chính quyền bù nhìn ở Sài Gòn”. Tôi nói: “Lời nói của bạn đồng nghiệp làm cho tôi hiểu được tình cảm thật sự của bạn đối với chúng tôi. Thế lập trường của Sài Gòn thế nào mà Hà Lan không thể ủng hộ được?”.

Đại sứ Hà Lan trả lời: “Họ đề nghị tôi chống việc Chính phủ cách mạng lâm thời tham gia hội nghị”. Tôi hỏi: “Thế Hà Lan sẽ ủng hộ Chính phủ cách mạng lâm thời chứ?”. Đại sứ trả lời: “Đó là ý định của chúng tôi”. Tôi nói: “Thế thì tôi không có gì để nói thêm về vấn đề này nữa”.

Sau đó đại sứ Van Der Klaus và tôi đã nói chuyện với nhau gần một giờ rưỡi đồng hồ về tình hình VN và về quan hệ giữa VN Dân chủ cộng hòa và Hà Lan.

Câu chuyện này đã mở đầu cho một thời kỳ quan hệ cá nhân rất tốt đẹp giữa đại sứ Van Der Klaus với tôi, vì khoảng năm 1976 ông trở thành bộ trưởng ngoại giao Hà Lan và cứ mỗi lần chúng tôi gặp lại nhau tại Hà Lan hoặc mấy lần cùng đi họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York, sau khi bàn bạc công việc chúng tôi đều ăn cơm với nhau và lại nhắc đến cái “sự cố ngoại giao ở Geneva”. Mối quan hệ cá nhân và “sự cố ngoại giao” nói trên cũng góp phần giúp cho việc giải quyết các vấn đề quan hệ song phương thêm thuận lợi.

…Và sự hiểu lầm của ông ngoại trưởng Madagascar

Trong thời gian từ cuối năm 1974 đến đầu năm 1975, tôi cũng có nhiều dịp vận động một số nước châu Phi đã có quan hệ ngoại giao với VN Dân chủ cộng hòa công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời. Trong thời gian này tôi cũng đã tiếp tục có nhiều cuộc gặp gỡ tại Paris hoặc đi sang nước sở tại để bàn việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa VN Dân chủ cộng hòa với các nước đó, và trong mỗi dịp này tùy đối tượng tôi đều vận động họ công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời.

Việc này đã có kết quả tốt đối với một số nước như Benin, Congo, Angola… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu (lúc đó phe tả “Cách mạng hoa hồng” đang sôi nổi). Đối với một số nước khác tuy chưa có kết quả ngay do hoàn cảnh của họ, nhưng hầu hết đều bày tỏ cảm tình với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN và Chính phủ cách mạng lâm thời.

Riêng với Madagascar có câu chuyện khá thú vị như sau: nhân dịp ngoại trưởng nước này là ông Ratsiraca mà tôi được quen biết từ trước khi ông tham gia chính quyền (về sau là tổng thống), đi công tác qua Paris, tôi đã xin gặp và nêu vấn đề Madagascar công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời.

Với cách nói của người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN. Tôi hỏi lại lý do vì Madagascar đã có quan hệ ngoại giao với VN Dân chủ cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn.

Ông ngoại trưởng trả lời: “Đối với chúng tôi thì nước VN là một, chỉ có nước VN Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ. Cho nên nếu công nhận bất kỳ chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước VN là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”.

Tôi phải giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của ta, vai trò của Chính phủ cách mạng lâm thời, những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam VN, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát…

Thấy ông còn phân vân, tôi đã phải “nói riêng” rằng: “Chính phủ cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “VN Dân chủ cộng hòa với Chính phủ cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi VN tái thống nhất thì vẫn phải là hai”.

Cuối cùng ông ngoại trưởng hứa sẽ báo cáo về chính phủ và độ hơn một tuần sau thì Đại sứ quán Madagascar ở Paris báo cho tôi biết là Madagascar đồng ý công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời.

Tháng 4-1975. Những ngày trọng đại của lịch sử dân tộc đã đến. Người Việt ở Paris lại sống theo giờ VN. Bộ trưởng ngoại giao của Pháp cũng liên tục có những cuộc tiếp xúc với người đại diện VN để hi vọng vào một “giải pháp chính trị”.

Chính phủ Pháp có một mối lo về lợi ích nếu Sài Gòn “tử thủ”…

VÕ VĂN SUNG

“Con đường thứ ba” của nước Pháp

Tháng Tư 14, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Chiến dịch Hồ Chí Minh” giữa lòng Paris (kỳ 4)

TT – Sau khi được “đường dây” thông báo về thời điểm, tôi trở về Paris với hai chặng dừng chân ở Prague và Zurich, vì ngày 14-4-1975 không còn chỗ trên chuyến bay thẳng Matxcơva – Paris và máy bay lên xuống sáu lần, nhưng tôi không thấy chút gì mệt mỏi mà đã có một tâm trạng mà từ bé cho đến lúc đó chưa bao giờ tôi có: có cái gì đó như tôi sắp nhận được một thứ mà mình mơ ước từ lâu và không có gì sánh được.

Ông M.Schumann – bộ trưởng ngoại giao Pháp, chính khách theo đường lối của tướng De Gaulle

Đợi đến giờ G

Tôi cứ miên man nhớ lại những lời anh Sáu Thọ nói với tôi đầu tháng 12-1974, câu nói đặc biệt xúc động của anh Lê Thanh Nghị và hình ảnh chiến trường miền Nam với các địa danh mà tôi khá thông thạo ở Tây nguyên, ở Trị-Thiên, Đà Nẵng, ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ.

Tôi về đến Paris vào khoảng 11g đêm, nhưng vẫn gọi điện thoại triệu tập cuộc họp ban cán sự Đảng vào ngày hôm sau. Cả đêm tôi miên man suy nghĩ và tính đến mức độ những gì tôi cần phải thông báo cho hai thành viên khác của ban cán sự là anh Phạm Văn Ba và Nguyễn Tuấn Liêu, đồng thời ban cán sự cần bàn mức độ phải thông báo cho ba cán bộ chủ chốt của nhóm lãnh đạo phong trào Việt kiều là các anh bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà – bí thư nhóm, Huỳnh Trung Đồng – phó bí thư và Lâm Bá Châu – ủy viên thường vụ.

Ngày 15-4-1975, khi họp ban cán sự tôi đã nói quan điểm của tôi là anh em ta phải thông suốt việc hoàn toàn giải phóng miền Nam bằng quân sự, và những vấn đề sách lược đã có sẽ phải vận dụng cho phù hợp với tình hình từng ngày sắp tới…

Quyền lợi của nước Pháp

Ngoài Mỹ ra, Pháp là nước có lợi ích ở miền Nam VN nhiều nhất so với các nước khác; lợi ích này bao gồm nhiều mặt kinh tế, văn hóa và chính trị. Về kinh tế, còn nhiều cơ sở công nghiệp và dịch vụ tại các thành phố lớn, nhất là Sài Gòn và vùng phụ cận, đang còn dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn; lợi ích kinh tế ở các vùng do ta kiểm soát chủ yếu là các đồn điền cao su ở Nam bộ và các loại đồn điền khác ở Tây nguyên.

Lợi ích văn hóa gồm nhiều cơ sở trường học và một số viện nghiên cứu chủ yếu cũng ở các vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Về lợi ích chính trị, họ còn một số khá đông Pháp kiều ở trong các vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, Pháp quan tâm đến ảnh hưởng của họ trong tầng lớp trí thức và một số người thuộc các tổ chức đứng về lực lượng thứ ba.

Do đó ta cũng hiểu rằng Pháp không thể đơn giản rút lui theo kiểu các nước phương Tây khác; như Anh, Cộng hòa liên bang Đức, Ý, Hà Lan, Bỉ đều lần lượt rút các đại sứ quán của họ ở Sài Gòn từ ngày 24-4-1975.

Thái độ của Pháp dễ hiểu vì từ khi lực lượng quân Thiệu chạy hết khỏi Trung bộ và cánh cửa Xuân Lộc bị mở toang thì họ cũng thừa biết là số phận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu coi như đã kết thúc. Họ cũng thừa biết rằng so sánh lực lượng về quân sự trước khi ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 26-4-1975 là phía ta thì sung sức cả về vật chất và tinh thần, phía Thiệu thì tan rã về vật chất và rệu rã về tinh thần, cho nên việc quân ta vào Sài Gòn coi như là chắc chắn.

Tuy vậy do lợi ích quá nhiều của mình, Pháp hi vọng với sức ép nhiều mặt, Thiệu phải ra đi và nhường chỗ cho một chính quyền mới dưới sự cầm đầu của một nhân vật không thuộc phe Thiệu, đáp ứng các đòi hỏi của phía ta thì còn có một hi vọng nhỏ là đàm phán với Chính phủ cách mạng lâm thời theo các nội dung giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam của Hiệp định Paris, tiến đến có sự thu xếp với Việt Nam dân chủ cộng hòa để có “một con đường thứ ba” nào đó.

Chính sự ngoan cố của Thiệu đã làm cho “hi vọng” của Pháp ngày càng teo lại như một miếng da lừa, tuy họ vẫn ra sức vớt vát. Ngay trong nội bộ phía Pháp cũng khác ý kiến nhau cả ở Paris và trong Đại sứ quán Pháp ở Sài Gòn. Sau này tôi được thông tin là đại sứ Pháp ở Sài Gòn, ông Merillon và ông tham tán đại sứ quán lúc bấy giờ là Hennekine cũng có khác nhau.

Đại sứ Merillon ra sức hoạt động cho một sự thu xếp ngừng bắn, còn tham tán Hennekine thì chủ trương nên tính đến làm ăn với Chính phủ cách mạng lâm thời. Ở Paris tôi được một số thông tin rằng trong Bộ Ngoại giao Pháp và các cố vấn ở phủ tổng thống cũng có hai xu hướng như trên.

Tuy có nhiều lợi ích nhưng Pháp cũng biết rằng nếu không có “con đường thứ ba” thì phải dàn xếp với phía cách mạng thôi. Mặt khác là Pháp cũng có chút lo ngại là nếu quân ta giải phóng Sài Gòn mà có sự kháng cự nào đó theo lối “tử thủ” mà Thiệu kêu gào, thì tuy quân ta nhất định đè bẹp quân Thiệu nhưng Sài Gòn sẽ bị nhiều tàn phá, các lợi ích của Pháp có thể bị phá hủy, đồng thời có thể đẻ ra vấn đề “con người” rất lớn là tị nạn hoặc trả thù…

Sống theo giờ “chiến dịch”

Từ ngày 21-4-1975 bộ trưởng ngoại giao Pháp lúc bấy giờ là ông J. Sauvagnargues liên tiếp mời đại sứ VN Dân chủ cộng hòa và trưởng phái đoàn thường trực Chính phủ cách mạng lâm thời đến Bộ Ngoại giao để hỏi và thúc “giải pháp chính trị” mỗi khi họ có một tín hiệu gì mới, vì cho đến 28-4 phía Pháp vẫn “hi vọng một giải pháp chính trị là còn có thể”.

Sau khi Thiệu từ chức ngày 21-4 và Trần Văn Hương lên thay, thì trưa 22-4 ngoại trưởng Pháp lại mời tôi và anh Phạm Văn Ba lên Bộ Ngoại giao; anh Ba được mời đến trước tôi 30 phút. Ban cán sự chúng tôi có trao đổi và nhất trí là Trần Văn Hương cũng là tay chân của Thiệu, do đó ta cứ bác bỏ mọi sự “dàn xếp”.

Khi chúng tôi ra cửa Bộ Ngoại giao Pháp thấy có khá đông phóng viên báo viết, đài và vô tuyến truyền hình chờ sẵn. Câu hỏi của các nhà báo là: Thiệu đã ra đi, Hương thay Thiệu, như vậy là đòi hỏi của ta đã được đáp ứng? Anh Phạm Văn Ba trả lời: “Trần Văn Hương không phải là Nguyễn Văn Thiệu nhưng cũng là anh em của Thiệu”.

Đến lượt tôi, tôi chỉ nói một câu rất gọn được các đài, các báo và vô tuyến truyền hình nhắc lại: “Huong et Thiêu c’est bonnet blanc et blanc bonnet” (Hương và Thiệu là cùng một duộc). Sau đó, ông Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Sauvagnargues được nhà báo hỏi thì trả lời: “Pháp cho rằng giải pháp chính trị là rất khó, nhưng cũng có thể vì Thiệu ra đi là coi như một điều kiện tiên quyết của Chính phủ cách mạng lâm thời đã được đáp ứng”.

Sau khi gặp ngoại trưởng Pháp ra về, chúng tôi rất mong chờ tin tức trong nước về thái độ chính thức của ta đối với việc Hương thay Thiệu, và không lâu sau đó chúng tôi được tin qua Đài Tiếng nói VN là Chính phủ cách mạng lâm thời bác bỏ đề nghị ngừng bắn và đàm phán không điều kiện của Hương, và Chính phủ cách mạng lâm thời cho rằng Hương chỉ là con rối của Mỹ để hòng duy trì bè lũ Thiệu không có Thiệu mà thôi.

Tiếp đó chúng tôi được tin Mỹ bắt đầu di tản người Mỹ từ 21-4 và Tổng thống Ford tuyên bố tại Trường đại học New Orleans là: “Chiến tranh đã kết thúc đối với Mỹ”. Ban cán sự chúng tôi rất mừng vì đã có các bước đi khớp với trong nước cả về ý đồ chiến lược và vận dụng sách lược.

Về sau chúng tôi được biết thêm là đúng ngày 22-4, Tổng bí thư Đảng Lao động VN Lê Duẩn đã thay mặt Bộ Chính trị phát lệnh mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Đúng 17g ngày 26-4, chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng qui mô lớn kết hợp với nổi dậy của quần chúng kết thúc chiến tranh bắt đầu.

Ngày 28-4, liền sau khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đề nghị “anh em ở bên kia trận tuyến” ngừng bắn để dàn xếp thì trưa 28-4 Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Sauvagnargues lại mời tôi và anh Phạm Văn Ba lên gặp. Chúng tôi lúc đó chưa nhận được chỉ thị hay thông báo gì của trong nước và cũng không có thì giờ để thỉnh thị. Trao đổi trong ban cán sự, tôi nói ta có tuyên bố ngày 26-4 của Chính phủ cách mạng lâm thời, do đó cứ dựa vào tuyên bố đó mà nói…

Trong đêm 28-4 chúng tôi được tin ông Dương Văn Minh đã yêu cầu Hoa Kỳ đóng cửa sứ quán Mỹ và cho tất cả nhân viên phòng tùy viên quân sự về nước và đại sứ Martin đã đồng ý. Tiếp theo có tin ông Vũ Văn Mẫu, “thủ tướng”, tuyên bố sẽ thi hành đầy đủ Hiệp định Paris, đặc biệt là điều 1, điều 4 và điều 9, sẽ tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương theo tinh thần thật sự dân chủ.

Trong suốt ngày 29-4 các báo đài phương Tây đều đưa tin Chính phủ cách mạng lâm thời đã “không để ý gì đến đề nghị của ông Dương Văn Minh”. Tiếp theo những tin tức trên các báo và đài đều tập trung đưa tin chiến sự, đưa tin về sự tan rã của quân ngụy và việc di tản của Mỹ và những người được Mỹ đưa đi. Không có báo chí và dư luận nào đề cập vấn đề đàm phán và ngừng bắn nữa.

Đến 4g sáng 30-4 giờ Paris, các đài đều đưa tin xe tăng quân giải phóng vào dinh Độc Lập và ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện, và khác với những ngày trước, Bộ Ngoại giao Pháp không hỏi gì Đại sứ quán VN Dân chủ cộng hòa và phái đoàn thường trực Chính phủ cách mạng lâm thời.

Ngày 30-4 đang đến với VN. Cùng nhịp theo bước chân của đoàn quân giải phóng, từ ngàn dặm xa, một cuộc biểu tình chưa từng có đã diễn ra ở Paris.

Bắt đầu từ lễ tang một người cộng sản Pháp…

VÕ VĂN SUNG

“Chúng tôi đúng khi ủng hộ VN!”

Tháng Tư 14, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Chiến dịch Hồ Chí Minh” giữa lòng Paris (kỳ cuối):

TT – Ngày 27-4 tôi được điện của ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng thông báo tôi được nhà cử làm đại diện của Đảng Lao động VN dự lễ tang của ông Jacques Duclos, ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp, vừa từ trần. Ông J.Duclos là một lãnh tụ nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai.

Biểu tình ngày 1-5-1975 mừng VN toàn thắng – Ảnh tư liệu

Lễ tang của một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp

Trong thời kỳ nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, ông là người lãnh đạo số một của Đảng Cộng sản Pháp ở lại vùng tạm chiếm, trực tiếp lãnh đạo các lực lượng vũ trang thuộc Đảng Cộng sản, cùng hợp tác với các đảng chính trị khác chống phát xít Đức và với lực lượng kháng chiến thuộc tướng De Gaulle lãnh đạo, cho nên ông có uy tín rất lớn trong nước Pháp.

Ông còn nổi tiếng là nhà hùng biện tại Quốc hội Pháp và tác giả của nhiều sách về Cách mạng Pháp. Do vậy đám tang của ông J.Duclos không phải chỉ riêng của Đảng Cộng sản Pháp, mà chính quyền Pháp cũng coi là tổn thất chung của nước Pháp. Các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới đã cử 39 đoàn đại biểu đến dự, nhiều đoàn do lãnh đạo cao nhất của các đảng dẫn đầu, như Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Liên Xô…

Do tình hình trong nước, Đảng Lao động VN không thể cử đoàn từ trong nước sang và đã cử tôi thay mặt Trung ương Đảng ta dự.

Có một kỷ niệm hơi độc đáo “phi lễ tân” đã xảy ra hai lần với vợ chồng tôi tại Bỉ.

Lần thứ nhất là trong cuộc chiêu đãi của nhà vua và hoàng hậu mời vợ chồng các đại sứ mới có ngoại giao đoàn và các chính khách Bỉ tham dự.

Khi hỏi chuyện vợ tôi về gia đình chúng tôi, vợ tôi trả lời là có con lớn đang là sinh viên đại học, nhà vua có một cách hỏi lại rất khác thường: “Xin bà đại sứ có thể cho tôi biết tuổi thật của bà được không?”.

Vợ tôi đã trả lời trong lúc nhiều người dự chiêu đãi vây quanh nhà vua, hoàng hậu và vợ chồng tôi. Nghe xong nhà vua nói to: “Thế là bà đại sứ hơn tôi 2 tuổi và bà là chị của tôi đấy”. Từ đó nhiều bạn bè Bỉ và một số nước bạn hay nói vui gọi vợ tôi là bà chị của vua Bỉ.

Lần thứ hai, sau cuộc chiêu đãi quốc khánh Bỉ tháng 7-1975, hơn hai tháng sau khi ta giải phóng miền Nam, quan khách đứng xếp hàng dài chào tạm biệt nhà vua và hoàng hậu.

Vợ chồng tôi nghĩ rằng nếu xếp hàng lâu thì mệt vì sau đó phải đi về Pairs ngay nên đã đến một góc phòng ngồi chờ khi quan khách về gần hết mới đến xếp hàng.

Nào ngờ nhà vua trông thấy và đã cùng hoàng hậu đến tận góc phòng chỗ vợ chồng chúng tôi ngồi chờ để hỏi thăm.

Đây không phải là cảm tình của nhà vua và hoàng hậu với riêng cá nhân chúng tôi, mà là các vị bộc lộ cảm tình với dân tộc VN anh hùng đã làm được việc mà bạn cảm phục và muốn biểu hiện điều đó qua việc đối xử với người đại diện của dân tộc VN.

Đoàn đưa tang đã đi từ trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp tại quảng trường “Đại tá Fabien” về nghĩa địa “Đức cha Lachaise”, và Jacques Duclos được mai táng cạnh mộ các lãnh tụ nổi tiếng của Đảng Cộng sản như Maurice Thorez, Marcel Cachin – là những người đều đã quen thân với Bác Hồ ở Pháp.
Tối 28-4 trước lễ mai táng, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã tổ chức bữa tiệc cảm ơn các đại biểu quốc tế đến dự. Tôi đã rất ngạc nhiên khi được xếp ngồi ở vị trí khách danh dự số một, trên cả tổng bí thư các đảng khác có mặt.

Đối diện với tôi là chủ tiệc G.Marchais, tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp, bên phải và trái tôi là ông Ponomariev, bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và bà Dolores Ibaruri, chủ tịch Đảng Cộng sản Tây Ban Nha. Tôi hiểu rằng đại diện Đảng Lao động VN được bố trí ghế khách danh dự một phần là do ông J.Duclos là bạn lớn của VN, nhưng điều quan trọng hơn cả là ở miền Nam VN quân giải phóng đang tiến về Sài Gòn.

Gần cuối bữa tiệc, ông G. Marchais hỏi tôi: “Chúng tôi có thể biến cuộc biểu tình 1-5 năm nay mừng VN toàn thắng hay không? Nếu được, chúng tôi sẽ bảo các đảng bộ của Đảng Cộng sản Pháp và các công đoàn mà chúng tôi có ảnh hưởng chuẩn bị”. Mọi người xung quanh chăm chú chờ câu trả lời của tôi.

Tôi nói: “Theo tôi, có nhiều khả năng quân giải phóng miền Nam sẽ vào Sài Gòn ngày 1-5, nhưng tôi không dám khẳng định 100%. Vì vậy tôi đề nghị Đảng Cộng sản Pháp chuẩn bị theo như các đồng chí dự định là hướng biểu tình mồng 1-5 vào khẩu hiệu mừng VN toàn thắng. Tôi sẽ bám sát tin tức và thông báo kịp thời cho Đảng Cộng sản Pháp. Nếu Sài Gòn được giải phóng ngày 1-5 thì đề nghị các đảng khác nếu có thể được xin cũng giúp đỡ VN theo hướng như Đảng Cộng sản Pháp”.

Mừng VN toàn thắng

Ban cán sự phân công anh em trong hai cơ quan đi tiếp xúc các tổ chức công đoàn ngoài CGT (Tổng liên đoàn Lao động do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo).

Ở Pháp, các công đoàn đều có hoạt động nhân ngày 1-5 nhưng nhiều năm làm không cùng giờ, địa điểm và khẩu hiệu. Nói chung, các bạn đều có phản ứng thuận lợi khi anh em ta gợi ý, đặc biệt là các bạn cực tả xưa nay rất ít hành động chung với Đảng Cộng sản Pháp và công đoàn của Đảng.

5 giờ sáng 30-4-1975 giờ Paris, sau khi được tin quân ta vào dinh Độc Lập và ông Dương Văn Minh đầu hàng, tôi đã gọi điện thoại cho ủy viên thường trực hôm đó của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp là ông G. Plissonnier.

Được tin tôi báo, ông Plissonnier cho biết nói chung các đảng bộ Đảng Cộng sản Pháp đã chuẩn bị đầy đủ, không có gì cần bổ sung thêm, chỉ cần xác nhận cho các nơi yên tâm và ông nhờ tôi gửi lời chúc mừng đến hai cơ quan của ta.

Về sau tôi được biết trong nội bộ bạn cũng có sự phân công theo dõi tình hình và bạn cũng đều nhận định là quân ta có thể vào Sài Gòn ngày 1-5. Có thể nói rằng cuộc biểu tình ngày 1-5-1975 ở Paris là tuyệt đẹp cho chúng ta. Biểu tình 1-5 là truyền thống của các bạn ở Pháp, nhưng các công đoàn đều có các yêu cầu chính trị riêng và khẩu hiệu riêng tùy tình hình quan hệ giữa các tổ chức công đoàn từng thời kỳ một.

Cuộc biểu tình 1-5-1975 diễu qua các đường phố từ quảng trường La Nation ở gần trung tâm Paris cho đến cửa ô Saint Martin đã có hầu hết các công đoàn và các tổ chức chính trị từ trung tả, tả và cực tả với khẩu hiệu “Mừng VN toàn thắng”. Có bạn đã dùng lối chơi chữ trong khẩu hiệu “V comme Vietnam, V comme Victoire, Vietnam Victoire!” (V là VN, V là thắng lợi, VN – thắng lợi!).

Biểu tình ngày 1-5-1975 mừng VN toàn thắng – Ảnh tư liệu

Ban cán sự cũng đã giao cho ban chấp hành nhóm Việt ngữ huy động toàn bộ lực lượng Liên hiệp Việt kiều tham gia, ngay cả một số người không thuộc Liên hiệp Việt kiều cũng tham gia. Mấy ngày sau chúng tôi được tin tức ở các nước lân cận là các tổ chức tả cũng đã đưa khẩu hiệu mừng VN toàn thắng vào hoạt động ngày 1-5.
Nay nhớ lại tôi thấy quả thật là một sự hợp đồng tuyệt vời giữa trong nước với ngoài nước; giữa các bạn bè thuộc đủ xu hướng ở các nước Tây Âu. Sau ngày 1-5-1975 khi chúng tôi cảm ơn các bạn Pháp về việc này, nhiều người nói: “Chính chúng tôi phải cảm ơn VN vì các bạn đã chứng minh rằng chúng tôi đúng khi ủng hộ các bạn!”.

Sáng 30-4 chúng tôi đã liên lạc với các tổ chức bạn và Việt kiều ở các nước lân cận như Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Tây Đức, Thụy Sĩ, Ý, Tây Ban Nha để báo tin và đề nghị hoạt động ngày 1-5 thì đều được bạn trả lời bạn cũng đã có chủ trương như vậy. Cho nên ngày 1-5-1975 khắp Pháp và Tây Âu là cả một ngày mừng VN thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 30-4-1975 tướng Nguyễn Khánh – cựu thủ tướng chính quyền Sài Gòn – đã đến Đại sứ quán VN Dân chủ cộng hòa tại Paris. Một cuộc trò chuyện bất ngờ và cảm động…

VÕ VĂN SUNG

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.